Friday, March 30, 2018

Kinh Trung Bộ 1, Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Năng


Kinh Trung Bộ 1, Bồ Đề Đạt Ma và Huệ Năng
Majjhima Nikaya 1, Bodhidharma and Hui Neng


Có một bản kinh mà câu cuối cùng ghi rằng tất cả các vị sư không hài lòng khi nghe lời Đức Phật dạy. Đó là Kinh Trung Bộ 1: Mulapariyaya Sutta
Nếu chúng ta đọc kinh này kỹ càng, chúng ta có thể nghĩ rằng kinh này về sau sẽ là một nền tảng cho Thiền Tông. Có thể như thế, hay không?
Xin mời đọc và tự phán đoán. Không nên dựa vào bình luận của người khác.

 .
There is a sutta whose last sentence said that all the bhikkhus did not delight in the Blessed One’s words. That is the "Majjhima Nikaya 1: Mulapariyaya Sutta."
When we read this sutta again and again, we may think that this sutta would later become a foundation for the Zen Buddhism. Maybe or maybe not?
Just read, and judge for yourself. Do not depend on other people’s commentary.


Here we excerpt some paragraphs the Blessed One said for the trainees (and I myself is a trainee).

MN 1 (Trung Bộ Kinh 1)
Translated by Bhikkhu Bodhi. Excerpt:
“Bhikkhus, a bhikkhu who is in higher training, whose mind has not yet reached the goal, and who is still aspiring to the supreme security from bondage, directly knows earth as earth. Having directly known earth as earth, he should not conceive himself as earth, he should not conceive himself in earth, he should not conceive himself apart from earth, he should not conceive earth to be ‘mine,’ he should not delight in earth....

“He directly knows Nibbāna as Nibbāna. Having directly known Nibbāna as Nibbāna, he should not conceive himself as Nibbāna, he should not conceive himself in Nibbāna, he should not conceive himself apart from Nibbāna, he should not conceive Nibbāna to be ‘mine,’ he should not delight in Nibbāna. Why is that? Because he must fully understand it, I say...

... That is what the Blessed One said, but those bhikkhus did not delight in the Blessed One’s words.

***
Translated by Bhikkhu Sujato. Excerpt:

A mendicant who is a trainee, who hasn’t achieved their heart’s desire, but lives aspiring to the supreme sanctuary, directly know earth as earth. But they shouldn’t conceive earth, they shouldn’t conceive regarding earth, they shouldn’t conceive as earth, they shouldn’t conceive that ‘earth is mine’, they shouldn’t take pleasure in earth. Why is that? So that they may completely understand it, I say.

They directly know water … fire … air … creatures … gods … the Creator … Brahmā … the gods of streaming radiance … the gods replete with glory … the gods of abundant fruit … the Overlord … the dimension of infinite space … the dimension of infinite consciousness … the dimension of nothingness … the dimension of neither perception nor non-perception … the seen … the heard … the thought … the cognized … oneness … diversity … all … They directly know extinguishment as extinguishment. But they shouldn’t conceive extinguishment, they shouldn’t conceive regarding extinguishment, they shouldn’t conceive as extinguishment, they shouldn’t conceive that ‘extinguishment is mine’, they shouldn’t take pleasure in extinguishment. Why is that? So that they may completely understand it, I say....

...That is what the Buddha said. But the mendicants were not happy with what the Buddha said.

***
Translated by Bhikkhu Thanissaro. Excerpt:

"A monk who is a trainee -- yearning for the unexcelled relief from bondage, his aspirations as yet unfulfilled -- directly knows earth as earth. Directly knowing earth as earth, let him not conceive things about earth, let him not conceive things in earth, let him not conceive things coming out of earth, let him not conceive earth as 'mine,' let him not delight in earth. Why is that? So that he may comprehend it.

"He directly knows water as water...fire as fire...wind as wind...beings as beings...gods as gods...Pajapati as Pajapati...Brahma as Brahma...the luminous gods as luminous gods...the gods of refulgent glory as gods of refulgent glory...the gods of abundant fruit as the gods of abundant fruit...the Great Being as the Great Being...the sphere of the infinitude of space as the sphere of the infinitude of space...the sphere of the infinitude of consciousness as the sphere of the infinitude of consciousness...the sphere of nothingness as the sphere of nothingness...the sphere of neither-perception-nor-non-perception as the sphere of neither-perception-nor-non-perception...the seen as the seen...the heard as the heard...the sensed as the sensed...the cognized as the cognized...singleness as singleness...multiplicity as multiplicity...the All as the All...
"He directly knows Unbinding as Unbinding. Directly knowing Unbinding as Unbinding, let him not conceive things about Unbinding, let him not conceive things in Unbinding, let him not conceive things coming out of Unbinding, let him not conceive Unbinding as 'mine,' let him not delight in Unbinding. Why is that? So that he may comprehend it...
...That is what the Blessed One said. Displeased, the monks did not delight in the Blessed One's words.



***
Bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu. Trích Kinh Pháp Môn Căn Bản:

(Vị hữu học)
Này các Tỷ-kheo, có Tỷ-kheo, hữu học tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu vô thượng an ổn khỏi khổ ách. Vị ấy thắng tri địa đại là địa đại. Vì thắng tri địa đại là địa đại, vị ấy đã không nghĩ đến địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với địa đại, đã không nghĩ (tự ngã) như là địa đại, đã không nghĩ: "Ðịa đại là của ta", - không dục hỷ địa đại. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri địa đại.
Vị ấy thắng tri thủy đại... hỏa đại... phong đại... Sanh vật... chư Thiên... Sanh chủ... Phạm thiên... Quang âm thiên... Biến tịnh thiên... Quảng quả thiên... Abhibhù (Thắng Giả)... Không vô biên xứ... Thức vô biên xứ... Vô sở hữu xứ... Phi tưởng phi phi tưởng xứ... sở kiến... sở văn... sở tư niệm... sở tri... đồng nhất... sai biệt... tất cả...
Vị ấy thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn; vì thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, vị ấy đã không nghĩ đến Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) đối chiếu với Niết-bàn, đã không nghĩ (tự ngã) như là Niết-bàn, đã không nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Ta nói vị ấy có thể liễu tri Niết-bàn...
...Như vậy, Thế Tôn thuyết giảng. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.


***
Để dễ hiểu, người viết xin dịch theo ý tổng hợp, lời Đức Phật dạy:

Vị Hữu Học
Một vị sư đang còn phải tu học, muốn tìm cầu giải thoát, thành tựu chưa xong -- trực tiếp biết đất như là đất (NG ghi chú: có thể hình dung, biết hoa như hoa, biết mây như mây...). Trực tiếp biết đất như đất, người này không nghĩ ngợi những thứ gì về  đất, mà cũng chớ nghĩ ngợi những thứ gì trong đất, cũng chớ nghĩ ngợi những thứ gì từ đất, mà cũng chớ nghĩ ngợi đất như là "cái của tôi,' cũng chớ quyến luyến gì trong đất. Tại sao thế? Để cho vị này có thể biết tận tường về đất.
Vị này trực tiếp biết nước như nước... lửa như lửa... gió như gió... chúng sinh như chúng sinh... chư thiên như chúng sinh... [...]... cái được thấy như cái được thấy... cái được nghe như cái được nghe... cái được cảm thọ như cái được cảm thọ... cái được nhận biết như cái được nhận biết... cái vô tướng như cái vô tướng... cái đa dạng sai biệt như cái đa dạng sai biệt... cái Tất Cả như cái Tất Cả...
Người này trực tiếp biết Niết bàn như Niết bàn. Trực tiếp biết Niết bàn như Niết bàn, người này chớ nghĩ ngợi các thứ gì về Niết bàn, chớ nghĩ ngợi thứ gì trong Niết bàn, chớ nghĩ ngợi thứ gì từ Niết bàn, chớ nghĩ ngợi Niết bàn như 'cái của tôi," người này cũng chớ quyến luyến trong Niết bàn. Tại sao thế? Để người này có thể hiểu tận tường nó...
...Đó là lời Thế Tôn dạy. Các vị sư không vui đối với lời Đức Thế Tôn dạy.


***

 Có một giải thích từ anh Binh Anson (xem nơi dấu hoa thị trong nối kết ở dưới):
And this is an explanation from Mr. Binh Anson (at the asterisk sign in the link below):


***

Bạn có thể đọc sách bình luận của Bhikkhu Bodhi nơi đây:
Also, you can read a commentary book here:
The Discourse on the Root of Existence: Mulapariyaya Sutta and Its Commentaries [Bhikkhu Bodhi]

***
Tôi tin rằng Kinh MN 1 là một nền tảng cho Thiền Tông. Xin mời đọc them.
I think that the MN 1 is the foundation for the Zen Buddhism. Let's read more as follows.

***

NGỮ LỤC BỒ ĐỀ ĐẠT MA
Nguyên Hảo dịch
NGỮ LỤC BỒ ĐỀ ĐẠT MA -  I
BỐN QUÁN HẠNH VÀO ĐẠO CỦA ĐẠI THỪA (trích)
Vô Sở Cầu Hạnh: Người đời ở trong cơn mê dài, dẫy đầy sự tham trước, gọi là có cầu. Người trí giác ngộ sự thật, ngược lại thế tục, an tâm nơi vô vi, thân thuận theo sự biến chuyển. Vạn vật đều là không, không có chỗ để ham muốn. Công đức và hắc ám thường đuổi theo nhau. Ba cõi ở lâu như trong nhà lửa. Có thân tất khổ, chẳng ai được an ổn. Hiểu rõ chỗ này thì sẽ bỏ được mọi thứ, dừng lại vọng tưởng, không còn cầu mong. Kinh dạy: "Có cầu tất có khổ, không cầu được vui." Khi không cầu mong, đó thật là tu đạo.

Xứng Pháp Hạnh: Lý thể các pháp tự tánh thanh tịnh. Trong đó, mọi vật đều là không, không nhiễm, không trước, không chủ, không khách. Kinh dạy: "Pháp không chúng sanh, nên lìa chúng sanh cấu, pháp không có ngã, nên lìa ngã cấu." Người trí nếu tin hiểu lý này, có thể thuận với Phật Pháp mà tu hành. Bản thể của pháp là không, nên xả thí thân mạng, tài sản mà tâm không luyến tiếc. Hiểu rõ ba không, không nương không bám, dẹp dần trần cấu, giáo hóa chúng sanh mà không mắc vào hình tướng. Đó là tự hành, mà lại có thể lợi người, lại có thể trang nghiêm đạo Bồ Đề. Hạnh bố thí với năm hạnh khác (sáu ba la mật) cũng đều đầy đủ. Giải trừ vọng tưởng, tu hành lục độ (2), nhưng không thấy chỗ tu, gọi là Xứng Pháp Hạnh.

And the English version, translated by Red Pine is here:

THE ZEN TEACHINGS OF BODHIDHARMA
Translated by Red Pine. Excerpt:
Third, seeking nothing. People of this world are deluded. They’re always longing for something-always, in a word, seeking. But the wise wake up. They choose reason over custom. They fix their minds on the sublime and let their bodies change with the seasons. All phenomena are empty. They contain nothing worth desiring. Calamity forever alternates with Prosperity! To dwell in the three realms is to dwell in a burning house. To have a body is to suffer. Does anyone with a body know peace? Those who understand this detach themselves from all that exists and stop Imagining or seeking anything. The sutras say, "To seek is to suffer. To seek nothing is bliss." When you seek nothing, you’re on the Path.

Fourth, practicing the Dharma.’ The Dharma is the truth that all natures are pure. By this truth, all appearances are empty. Defilement and attachment, subject and object don’t exist. The sutras say, "The Dharma includes no being because it’s free from the impurity of being, and the Dharma includes no self because it’s free from the impurity of self." Those wise enough to believe and understand these truths are bound to practice according to the Dharma. And since that which is real includes nothing worth begrudging, they give their body, life, and property in charity, without regret, without the vanity of giver, gift, or recipient, and without bias or attachment. And to eliminate impurity they teach others, but without becoming attached to form. Thus, through their own practice they’re able to help others and glorify the Way of Enlightenment. And as with charity, they also practice the other virtues. But while practicing the six virtues to eliminate delusion, they practice nothing at all. This is what’s meant by practicing the Dharma.


***
Lục Tổ Huệ Năng
KINH PHÁP BẢO ĐÀN
Tỳ Kheo Thích Duy Lực Dịch và Lược Gỉai
Phẩm Định Huệ Thứ Tư

Trích:
Thiện tri thức, Pháp môn này xưa nay lập VÔ Niệm làm tông, VÔ TƯỚNG làm thể, VÔ Trụ làm gốc. VÔ TƯỚNG là ở nơi tướng mà lià tướng. VÔ Niệm là ở nơi niệm mà chẳng niệm. VÔ Trụ là bản tánh của con người.
Đối với tất cả sự vật, thiện ác, tốt xấu, kẻ thù, người thân trên thế gian, cho đến lúc bị người nói xấu, khi dễ, đều cho là không, chẳng nghĩ trả thù, niệm niệm chẳng nghĩ ngoại cảnh. Nếu niệm trước, niệm sau và đang niệm, niệm niệm theo cảnh chẳng dứt, gọi là trói buộc, đối với tất cả pháp niệm niệm chẳng trụ tức là chẳng trói buộc vậy, đây là lấy VÔ Trụ làm gốc.

.

The English version. Translated by the Venerable Master Hsuan Hua:
 “Good Knowing Advisors, this Dharma-door of mine, from the past onwards, has been established from the first with no-thought as its doctrine, no-mark as its substance, and no-dwelling as its basis. No-mark means to be apart from marks while in the midst of marks. No-thought means to be without thought while in the midst of thought. No-dwelling is the basic nature of human beings.

“In the world of good and evil, attractiveness and ugliness, friendliness and hostility, when faced with language which is offensive, critical, or argumentative, you should treat it all as empty and have no thought of revenge. In every thought, do not think of former states. If past, present, and future thoughts succeed one another without interruption, it is bondage. Not to dwell in dharmas from thought to thought is to be free from bondage. That is to take no-dwelling as the basis.

.
The conclusion? Did Zen Buddhism come from the MN 1 Sutta?
Kết luận? Có phải Thiền Tông là từ Kinh Trung Bộ 1?

No comments:

Post a Comment

FIVE WAYS TO DEFUSE ANGER - 5 CÁCH THỰC HÀNH ĐỂ XOA DỊU NHỮNG CƠN GIẬN

FIVE WAYS TO DEFUSE ANGER      We all know that anger is not healthy, not beautiful, and that it is definitely destructive, but we ...