Saturday, June 9, 2018

LÀ NHƯ THẾ - AS IT IS

LÀ NHƯ THẾ - AS IT IS



Composed and translated by Tâm Thường Định
.
LÀ NHƯ THẾ
  Kính tặng Ni trưởng Hạnh Huệ

Ni trưởng thong dong bước
Mây cùng bay qua đồi
Nhẹ nhàng không tì vết
Như bóng nhạn ngang trời.

Nụ cười lan diệu vợi
Hoa nở khắp trên đồi
Khi tâm không ràng buộc
Cõi lòng thật thảnh thơi

Sống hay chết như thế
Nhẹ nhàng không mong đợi
Rõ ràng ta thường biết
Tánh Phật ở muôn nơi.


Bước nhẹ trên đồi - Photos: BXK
.

.
AS IT IS
 For Abbess Hanh Hue

Walking leisurely on one afternoon
The clouds also passing along freely 
Like her, flowing gently without any mark
Just like a heron crosses the sky without trace.

The smile is contagious
Like the California poppies bloom all over the hill
When the mind is not bound to anything
Our heart and mind are at peace and free

Coming or going, life or death is just like that
Live gently, at ease, not expecting nor worrying
Knowing the awakening potential within us
The Buddha Nature is everywhere.


Friday, June 8, 2018

SUY NGHĨ VỀ HƯỚNG GIÁO DỤC ĐẠO PHẬT CHO TUỔI TRẺ

SUY NGHĨ VỀ HƯỚNG GIÁO DỤC ĐẠO PHẬT CHO TUỔI TRẺ - THE CURRENT THINKING ABOUT BUDDHIST EDUCATION PLANS FOR VIETNAMESE YOUTH

Young Monk in Vietnam: Photo: photoshd.wordpress.com

SUY NGHĨ VỀ HƯỚNG GIÁO DỤC ĐẠO PHẬT
CHO TUỔI TRẺ

Tuệ Sỹ

Phật giáo Việt nam đang chứng kiến những xáo trộn và khủng hoảng chưa từng có trong lịch sử. Các mô hình tổ chức, những lễ tiết sinh hoạt, từ ma chay, cưới hỏi các thứ, được cố gắng rập khuôn theo mô hình phương Tây một cách vội vã đã làm xói mòn phần nào truyền thống tâm linh của dân tộc. Thêm vào đó, dưới tác động của xã hội tiêu thụ, và sức ép của quyền lực chính trị làm nảy sinh những tâm trạng bệnh hoạn do bởi quan điểm thế quyền và giáo quyền thiếu nền tảng giáo lý. Tình trạng đó tất nhiên đã có những tác động tiêu cực lên đường hướng giáo dục thanh niên Phật tử Việt nam.

Ngày nay, nói đến tuổi trẻ Việt nam, có lẽ nên tượng hình như hai đường thẳng mà điểm hội tụ là một điểm trong xã hội tiêu thụ. Ðó là hai bộ phận tuổi trẻ trong nước và ngoài nước. Tuy tất cả cùng được giáo dục theo mô hình giáo dục phương Tây, nhưng do khác biệt định chế xã hội dựa trên quyền lực chính trị chứ không phải do xu hướng phát triển tự nhiên.  Ðó là sự khác biệt, giả tạo như vũng sình, không biết đâu là chỗ chắc thật để bám vào mà thoát thân. Tuổi trẻ Việt nam đang bị bật rễ, do đó có nguy cơ mất hướng, hay thực sự đã mất hướng. Tuổi trẻ của đạo Phật Việt nam cũng không ngoại lệ, và không dễ dàng vượt qua tình trạng mất hướng này. Ở đây tôi nói mất hướng là nhìn từ điểm đứng dân tộc. Tuổi trẻ ở nước ngoài chỉ cần quên, hay tạm thời quên, nguồn gốc Việt nam của mình, thì hướng đi cho nhân cách được xác định ngay từ khi vừa bước chân vào cổng Ðại học. Nói cách khác, tuổi trẻ Viêt nam hải ngoại không phải hoàn toàn bị bật rễ, nhưng ở trong tình trạng di thực. Quýt phương Nam đem trồng trên đất phương Bắc, có thể ngọt hơn, có thể chua hơn, và cũng có thể èo uột vì không hợp phong thổ. Tuổi trẻ trong nước là thân cây còn dính chặt với gốc rễ trên bản địa. Nhưng để sinh tồn, và muốn phát triển nhanh chóng, bị sức hút của sự thăng tiến tác động từ bên ngoài, nên có nguy cơ bật rễ. Ðại bộ phận tuổi trẻ Việt nam ngày nay biết rất ít về quá khứ ông cha mình, đã yêu nhau như thế nào, đã suy nghĩ như thế nào để bắt kịp những giá trị tâm linh phổ quát của nhân loại.

Tuổi trẻ của đạo Phật Việt nam tuy có thể được tin tưởng là còn cố bám chặt lấy gốc rễ truyền thống để vươn lên, nhưng do sự thiếu trách nhiệm hoặc thiếu nhận thức về hướng đi của thời đại của những người đang đứng trên cương vị giáo dục vô tình chẳng khác nào bác sỹ không còn biết liệu pháp nào hay hơn là cho uống thuốc ngủ để người bịnh quên đi những nhức nhối của thời đại mà tuổi trẻ cần phải biết để chọn hướng đi tương lai cho đời mình. Mặt khác, do sức ép chính trị mà tuổi trẻ cần phải được tập hợp thành lực lượng tiền phong và hậu bị để bảo vệ chế độ, do đó việc giảng giải đạo Phật cho tuổi trẻ không được phép vượt qua các cổng chùa. Bên trong cổng chùa, tuổi trẻ chỉ được giảng dạy những ý nghĩa vô thường hay vô ngã không như là quy luật vận động để tồn tại, phát triển và hủy diệt của thiên nhiên và xã hội, mà như là một bức tranh toàn xám của cuộc đời được tô trét bởi những người mà tuổi đời đã mệt mỏi với những thành công và thất bại đã làm thui chột ý chí.

Trong một xã hội hội mà các giá trị tâm linh truyền thống đang bị băng hoại, một số thanh niên tác quái tại các đô thị lớn dựa vào quyền lực chính trị của cha chú, hay tiền của bất chính của bố mẹ; một số khác miệt mài học chỉ để làm thuê, làm những người nô lệ kiểu mới trung thành với những ông chủ giàu sụ. Một số khác, cam chịu thân phận nghèo đói, thất học, cam chịu tất cả nhục nhã của một dân tộc nghèo nàn lạc hậu. Trong tình trạng đó, sự hiện diện của các đoàn sinh GĐPT, những đơn vị tập hợp các thanh niên biết tìm lẽ sống cho bản thân, thật sự là một thách thức xã hội, mà quyền lực chính trị cảm thấy như một đe dọa nếu không vận dụng được để phục vụ cho tham vọng đen tối, mà vì tham vọng ấy có khi sẵn sàng mãi quốc cầu vinh. Như thế thì, tất nhiên là ảo tưởng khi nói rằng, chúng ta chỉ tập họp tuổi trẻ để dạy đạo, không cần biết cái gì khác nữa. Nói thế chẳng khác nào lùa những nai con vào một chỗ để cho cọp dữ dễ dàng thao túng.

Tất nhiên, đất nước cần tuổi trẻ để xây dựng. Ðạo pháp cũng cần tuổi trẻ để thể hiện bản hoài tiếp vật lợi sinh của mình. Theo bản hoài đó, giáo dục đạo Phật cho tuổi trẻ không chỉ có mục đích chiêu dụ họ vào trong bốn vách tường nhà chùa để cách ly những phòng trà, hộp đêm, những môi trương cám dỗ, sa đọa. Tuy nhiên, cơ bản giáo dục đạo Phật vẫn phải là rèn luyện đạo đức, phát triển trình độ nhận thức tâm linh.

Trước hết, hãy nói về rèn luyện đạo đức. Ở đây hoàn toàn không có vấn đề nhồi nhét những tín điều đức lý. Nghĩa là, không nói với tuổi trẻ không được làm điều nầy, không được làm điều kia. Tuổi trẻ có thể làm bất cứ điều gì mà họ tự thấy thích ứng với thời đại. Nhưng không để cho tuổi trẻ bị lôi cuốn bởi những yếu tố độc hại của thời đại, không bị lệch hướng nhận thức bởi các phong trào thời thượng, do đó cần thiết lập một không gian an toàn, và di động. Không gian an toàn đó là bồ đề tâm. Tính di động, đó là vô trụ xứ của Bồ tát. Chúng ta cần nói thêm hai điểm này.

Lớn lên tại các đô thị phồn vinh, rồi bước vào xã hội với học vị cao, mức sống ổn định, một bộ phận tuổi trẻ ít khi trực tiếp sống với những đau khổ của các bạn trẻ khác ở những vùng đất tối tăm xa lạ. Thiếu đồng cảm về những khổ đau của đồng loại, do đó cũng thiếu luôn cả nhận thức về thực chất của sự sống, không thể hiểu hết tất cả ý nghĩa thiết cốt của khát vọng sinh tồn. Cho nên, đưa đạo Phật đến với tuổi trẻ, phải có nghĩa là đưa tuổi trẻ đến giáp mặt với thực tế của sinh tồn. Ðó là làm phát khởi bồ đề tâm nơi tuổi trẻ: Ở nơi nào hiểm nạn, tôi nguyện sẽ là cầu đò. Nơi nào tối tăm, tôi nguyện sẽ là ngọn đuốc sáng. Ðây có thể là ước nguyện xa vời, thậm chí sáo rỗng đối với một số người. Nhưng đó chính là mặt đất kim cang để trên đó tuổi trẻ tự vạch hướng đi cho mình, tự quy định những giá trị sống thực cho chính đời mình.

Về tính di động, đó là tính mở rộng, không tự câu thúc vào trong một không gian xã hội chật hẹp, để có thể có tầm nhìn xa hơn, vượt ngoài thành kiến và truyền thống khép kín của xã hội mình đang sống. Nói cụ thể hơn, tuổi trẻ được giáo dục để luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng lên đường. Ðến bất cứ nơi nào trên trái đất này, nơi mà đau khổ được sống thực hơn, hạnh phúc được trắc nghiệm chân thực hơn. Trong một ý nghĩa khác, tính di động như vậy đồng nghĩa với tính phiêu lưu. Từ khi sống tại những đô thị được xem là ổn định, nhân loại đã dập tắt đi tính phiêu lưu nơi tuổi trẻ, nhưng khơi dậy tính du lịch nơi người lớn đi tìm những lạc thú mới để thay đổi khẩu vị thường nhật.
Tinh thần vô trụ xứ tất nhiên có nhiều điểm khác biệt. Vô trụ xứ nói, không trụ sinh tử, không trụ Niết bàn. Ðó là tinh thần khai phóng, không bị buộc chặt vào bất cứ giá trị truyền thống nào. Tuổi trẻ cần được học hỏi để sống với tinh thần khai phóng và bao dung, để tự mình định giá chuẩn xác giá trị các nền văn minh nhân loại, tự mình chọn hướng đi thích hợp trong dòng phát triển hài hòa của tất cả các nền văn minh nhân loại, tuy khác biệt tín ngưỡng, khác biệt tập quán tư duy, khác biệt cả phong thái sinh hoạt thường nhật.

Về sự phát triển trình độ nhận thức tâm linh nơi tuổi trẻ, ở đây chúng ta nói đến sự học tập thông qua Kinh điển truyền thống. Tam tạng Thánh điển là kho tàng kiến thức bao la. Dựa trên những lời dạy căn bản của đức Phật về giá trị của sự sống, bản chất của đau khổ và hạnh phúc, trên đó nhiều quy luật về thiên nhiên, về xã hội, về tâm lý, ngôn ngữ, của con người lần lượt được phát hiện qua nhiều thời đại trong nhiều khu vực địa lý có truyền thống lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng, trong toàn bộ lịch sử các nền văn minh nhân loại, đang tồn tại hay đã biến mất, không một học thuyết nào mà không từng bị nhận thức của người đời sau vượt qua. Có học thuyết bị vượt qua và bị đào thải luôn. Có học thuyết bị vượt qua, rồi được phục hoạt. Nhưng có rất ít học thuyết được phục hoạt mà bản chất không bị biến dạng. Biến dạng cho đến mức nếu so sánh với quá khứ, nó như là quái thai. Giáo lý của Phật khẳng định quy luật vô thường, nên vấn đè là khế lý và khế cơ, chứ không phải là vấn đề bị hay không bị vượt và đào thải.

Tuổi trẻ học Phật không có mục đích trở thành nhà nghiên cứu Phật học, mà học Phật là tự thực tập khả năng tư duy bén nhạy, linh hoạt, để có thể nhìn thẳng vào bản chất sự sống. Cho nên, sự học Phật pháp không hề cản trở sự học thế gian pháp; kiến thức Phật học không xung dột với kiến thức thế tục. Duy chỉ có điều khác biệt, là học Phật khởi đi từ thực trạng đau khổ của nhân sinh để nhận thức đâu là hạnh phúc chân thật. Bi và trí là đôi cánh chắc thật sẽ nâng đỡ tuổi trẻ bay liệng vào suốt không gian vô tận của đời sống.
T.S.
.
THE CURRENT THINKING ABOUT BUDDHIST EDUCATION PLANS
FOR VIETNAMESE YOUTH

The Most Venerable Thich Tue Sy

Vietnamese Buddhism is witnessing a turmoil and crisis unprecedented in its history. Organizational models and everyday ceremonies, from funerals to weddings, are hastily trying to copy the Western models, which undermine Vietnamese spiritual traditions. Additionally, under the impact of consumerist society, the pressure of political power gives rise to negative consequences.  This morbid standpoint results from a secular and religious doctrine that lacks a basic foundation in Buddhism. That course, in turn, has a negative impact on Buddhist education plans for Vietnamese youth. Today, when talking about Vietnamese youth (in Vietnam and abroad), perhaps one can construct two figurative parallels that intersect at the point of consumerist society.

These two figurative parallels are the development of the youth in Vietnam and abroad. Even though youth, both in Vietnam and abroad, have been educated based on a Western educational model, they exist in different social institutions.  In Vietnam, the education of youth is based on political power rather than following a natural growth trend. This artificial difference is like living in a mud puddle, not knowing where to find a real place to gain enough footing to escape. Vietnamese youth are being uprooted, and face a great risk of losing their life direction; some have indeed already lost their life direction. The Buddhist youth in Vietnam are no exception, and it is not easy to overcome this loss of direction in life. Here, the emphasis on the loss of direction is from the standpoint of Vietnam as a nation. The Vietnamese youth abroad have either temporarily or permanently forgotten their Vietnamese origins, so their direction in life is determined primarily when entering college age. In other words, overseas Vietnamese youths do not have their life direction and culture entirely eradicated, but are in a state of acclimatization and assimilation (into their new environment). When tangerine seeds from the South are planted in the land of the North, they could be sweeter, they could be more sour, or the crop could be meager because of an inappropriate climate and soil.

Vietnamese youth in the home country are like the trunk of a tree that still has its indigenous roots. The drive to survive and to grow rapidly means the attraction for development from external forces; this could bring the risk of uprooting the entire tree. The majority of Vietnamese youth today know very little about their family’s personal past, about their parents, or ancestors. They don’t know how their parents fell in love with each other, or what their thinking is about the universal spiritual values of mankind.

One can believe that Buddhist youth in Vietnam are still trying to cling to traditional roots to grow. The lack of obligation and responsibility or a lack of awareness about the direction of modern society by those who are in leadership roles, in both spiritual and educational settings, are like a doctor who does not know any better therapy for an illness, and just gives sleeping pills so the patient will forget their aches. The lack of proper education and leadership is the ache and agony of the times. The youth currently need proper education and leadership in order to plan for a better direction and future in life. On the other hand, due to political pressures, youths need to be gathered into institutions which protect the regimes. Teaching Buddhism to young people is controlled and not allowed to spread beyond the ‘temple gates’. Inside the gates, youths are taught the meaning of impermanence and no-true-identity (selflessness), not as a philosophy of knowledge campaigning for survival, nor the development and destruction of natural processes as well as society, but as an overall pessimistic picture of life, one that is filled with hopelessness, aging, and exhaustion with the successes and failures that have thwarted the will.

In a society where traditional spiritual values ​​are decaying, some youth in large urban areas are acting out based on the political power of their parents, or with the illicit money of their parents. Others study and work hard just to make ends meet—these are modern slaves loyal to the wealthy boss. Others, doomed to poverty status and illiteracy, endure humiliating poverty and backwardness. In that dire situation, the presence of the Vietnamese Buddhist Youth Association (GĐPT) gathers the youths, to guide and nurture them to find meaningful reasons for better living for themselves. It is really a challenge in society, because the politically powerful feel them as a threat that can’t be manipulated to serve their dark ambition. Because of that dark ambition, sometimes those with political power are willing to sacrifice their country for their own desire for power. Thus, it is, of course, an illusion to say, “We gathered the youth to teach religious doctrine, and they do not need to know anything else.” A metaphor is just like deer being herded into a room for the tiger to easily target.

Of course, the country needs its youth in order to develop. Religion also needs youth to carry out its missions and doctrines that are beneficial to the youth themselves, other beings, and society, both in the present and in the future. According to this skeptical perspective, Buddhist education for youth is not only for the purpose of luring them into the four walls of the temple to insulate them from pubs, nightclubs, and other depraved, tempting environments. However, the foundation of Buddhist education is about moral training, developing ethical values and spiritual knowledge. First, let's talk about ethics training. Here, there is absolutely no brain-washing or stuffing the youths with dogmatic religious doctrines. That means, do not tell young people,  “Do not to do this, do not to do that.” Youths can do anything, if they find themselves adapting to the times. But also don’t let the youth fall into the trap of harmful elements of the era, or deflect and abandon their guided principles, core values and awareness when they interact with different movements of the current era. Thus, one must establish a safe space, mobile and dynamics. That safe space is bodhichitta. The mobility and dynamics are the selflessness and non-abiding (no-abode or “non-stationary”) of the Bodhisattva. We need to address more about these two points.

Growing up in prosperous cities, and then stepping into society with a proper higher education, and a stable life, some youths rarely have direct contact with the suffering of other young people in remote or unknown lands. The lack of empathy for the suffering of fellow human beings leads to the lack of knowledge of the essence of life; they can not understand the core significance of aspirations for life. Thus, bringing Buddhism to youths mean asking our youths to confront the reality of life, of existential survival, that is, to develop and arise their bodhichitta: “Wherever there is danger, I vow to be the means to reach the safe haven. Wherever there is darkness, I vow to be the guiding light.” (Shantideva, The Way of the Bodhisattva). This may be a farfetched aspiration, even a cliché for some people. But it is the vajra ground, the diamond foundation, for the youth themselves to plan their own life direction, and self-regulate their real core values for their own lives.

Regarding mobility and dynamics, which means to be open-minded, and not being confined in a narrow social space, and being able to have more foresight, beyond prejudices and the closed traditional society in which we live. In particular, youth are taught to always be in ready to take off; set foot in anywhere, any place on this earth, where suffering would be experienced more realistically, real happiness would be tasted. In a sense, such mobility and dynamics are synonymous with adventure. Since living in urban areas is considered stable, mankind has extinguished the adventurous minds of the youths; on the other hand, it has aroused tourist characteristics where adults seek new tempting pleasures to add variety to their everyday tastes.

The spirit of selflessness and the “non-abiding” nature of the Bodhisattva has many different viewpoints. It means not to become attached either to the world or Nirvana. It is the liberal spirit, not tied to any traditional values. Youths need to learn to live with the spirit of openness and tolerance, to self-assess the value of human civilization, to choose appropriate personal direction that demonstrates harmonious development with all of human civilization, despite differences of beliefs, practices and viewpoints, and even different demeanors in everyday life activities.

Regarding the development of the youth’s moral value and spiritual knowledge, here we emphasize learning of the canonical scriptures. The Tripiṭaka or the Three Baskets of Sacred Texts, hold an immense wealth of knowledge and wisdom. Based on the fundamental teachings of the Buddha on the value of life, the nature of suffering and happiness, in which a lot of laws of nature, society, psychological factors, linguistics have been disclosed through the ages in many geographical areas in different traditions. However, we also know that, in the entire history of human civilizations, those that still exist and those that have disappeared, not a single theory goes without being tested or without ever being surpassed by later finding. There are theories that existed in the past and were eliminated forever. There are theories that have been surpassed and then revived. But there are very few theories that are revived without being changed or transformed or deformed-- deformed to the point that when compared with the past, it sounds monstrous. The teachings of the Buddha affirm the law of impermanence, so the problem when teaching Buddhism is whether the content and level are proper and appropriate or not, rather than the issue being whether or not the Teachings of Buddha are overtaken and eliminated.

Our young people study Buddhism not to become researchers of Buddhism or Buddhist scholars, but to study and practice critical thinking skills, to be dynamic, flexible, and have the ability to look into the nature and reality of life. Therefore, studying Buddhism does not hinder learning of secular education; Buddhist knowledge does not conflict with mundane knowledge. The only difference is when studying Buddhism we begin with the actual situation of human suffering in order to realize true happiness. Compassion (love) and Wisdom (truth) will give young people the wings to support and nurture them throughout their search in the endless space of life.
Translated by Phe Bach

Please visit the work of Zen master Thich Tue Sy at this website:
http://huongtichphatviet.com or http://phatviet.com/html/index.html
(source: https://phebach.blogspot.com/2015/11/suy-nghi-ve-huong-giao-duc-ao-phat-cho.html)

Friday, May 18, 2018

Sunday, May 13, 2018

Rồi Mẹ Như Sương

Rồi Mẹ Như Sương


A song composed
by Trần Chí Phúc

based on a poem
by Nguyên Giác

from the album
Hoa Bay Khắp Trời


.

Rồi Mẹ Như Sương
.
Thương con trăm sông ngàn núi
trang kinh mẹ chép cúng dường
bốn thời sớm trưa chiều tối
nhớ ơi nước mắt lăn dòng
.
Thương con mãi xa ngàn dặm
tụng kinh mẹ khóc mưa nguồn
gió đưa tới rừng xa thẳm
lạnh ơi mưa ngấm vào hồn.
.
Rồi mẹ như sương, tan vào nắng trưa
rồi mẹ như hương, ẩn hiện trong mơ
rồi mẹ như mây, tóc trắng cuối trời
rồi mẹ như nắng, bóng khuất sau đồi
.
Nửa khuya trở mình viễn phố
con đọc trang kinh cuối dòng
chữ mẹ ngút ngàn thương nhớ
chép lời Phật dạy qua sông
.
Thương ơi một rừng tóc trắng
bay về  che khắp tử sinh
nghe chim kêu ngàn xa vắng
ngẩng đầu rơi tiếng bất sinh.

.

Performed by singer Duy Thủy
.




Performed by songwriter Trần Chí Phúc
.
.
Then Mom is like a mist
.
Loving her son who was a hundred rivers and a thousand mountains away,
Mom handwrote a copy of sutra for offering to Buddha.
Four times a day – morning, noon, afternoon and evening – Mom
wrote while her tears dropped down
.
Loving her son who was a thousand miles away,
Mom chanted the sutra while her tears became rainfalls
The wind carried the chanting voices and the rainfalls to a faraway forest
where her son felt the chilly rain seeping into his body and mind 
.
Then Mom was like a mist, dissolving into the sunshine
then Mom was like a scent, appearing and disappearing in dreams
then Mom was like a cloud, floating her white hair over the horizon
then Mom was like the sunrays, vanishing after the hills
.
I read the last lines of the sutra at midnight
and felt this foreign town shaking
Mom’s handwriting carried so much love
rewriting  Buddha’s words that showed how to cross the river
.
So lovely, I see now a sea of white hair
fly over all the realms of life and death
Listening to the birds singing afar
I raise my head and hear the sound of nirvana
.

Thursday, May 10, 2018

Remembering The Most Venerable Thich Quang Duc’s Self-immolation

 This Vesak, Remembering The Most Venerable Thich Quang Duc’s Self-immolation

The Self-Immolation of Buddhist Monk Thich Quang Duc -  photo taken by Malcolm Browne 
.


This Vesak, Remembering
The Most Venerable Thich-Quang-Duc’s Self-immolation
.
Original poem and translation
by Tâm Thường Định Bạch Xuân Phẻ
.
Fifty years from the summer of 1963
Remembering our homeland
Still, there are social injustices
Still existed: Hatred, corruption, and ignorance
.
1963 - a historic year
The Venerable Thich Quang Duc self-immolated
The torch of Compassion was lit
Spreading all over the world
.
For every Vesak season
We must remember the teaching of the Buddha Shakyamuni
We must carry our own torch
For Self-revelation and liberation
.
Before the three poisons (greed, hatred, and ignorance)
Before the society of selfishness and materials
Whatever we take
Think about the impermanence and separation
.
Knowing all things have no self
Living life with compassion and altruism
So in every single moment
Embrace and practice the Buddha's teachings.
.
Sacramento, Buddhist calendar 2557
(Source: Tâm Thường Định)
,
.
NHỚ THẦY NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN SINH lần thứ 2637

The Self-Immolation of Buddhist Monk Thich Quang Duc -  photo taken by Malcolm Browne

The Self-Immolation of Buddhist Monk Thich Quang Duc
Photo from: www.vintagevectors.com 
.

NHỚ THẦY NHÂN MÙA PHẬT ĐẢN SINH lần thứ 2637
       Tưởng niệm Ngài Thích Quảng Đức và Pháp nạn 63
.
Năm mươi năm pháp nạn
Hướng về quê hương mìnnh
Bao bất công xã hội
Tham sân hận vô minh
.
Năm 63 lịch sử
Ngài Quảng Đức tự thiêu
Ngọn đuốc Từ Bi sáng
Lan toả khắp năm châu
.
Mùa Đản Sanh nhớ lại
Lời Đức Phật Thích Ca
Hãy tự mình cầm đuốc
Tự soi đường mà đi
.
Trước tham giận mê si
Trước bạo quyền ích kỷ
Chúng ta phải làm gì
Trước vô thường chia ly
.
Biết mọi sự vô ngã
Sống cuộc đời vị tha
Nên trong mỗi sát-na
Thực hành lời Phật dạy.
.
Sacramento, Mùa Phật Đản 2557.


Wednesday, May 9, 2018

Ngày Sanh - thơ Nguyễn Lương Vỵ, bản Anh dịch Tô Đăng Khoa

Ngày sanh

Thơ Nguyễn Lương Vỵ

Chào nhé ngày sanh ta
Sáu mươi ba năm lẻ
Cơn mưa nhẹ bay qua
Ly cà phê nhấm khẽ
Gió tháng Năm chuyển mùa
Trưa ngày Chín lay lá
Đốt thuốc mừng tuổi già
Rằng thì là vui vậy!
.
Chẳng còn ai tri kỷ
Đất lạ mà trời quen
Thơ cứ nhen đóm lửa
Hồn cứ khêu ngọn đèn
Nhớ tiếng kèn lá dứa
Thương cánh bướm hồ sen
Mộng tràn theo tiếng hú
Tóc bạc đâu dám quên
.
Chẳng còn em mười sáu
Bông Vàng đẫm hương trăng
Qui Nhơn con đường nhỏ
Ghềnh Ráng lối đi gần
Mộ Hàn trầm tiếng gió
Hồn ta vang dấu chân
Ôi đất trời thơ dại
Ngoảnh lại bóng chiều ngân
.
Chẳng còn ta hỏi han
Những con còng trốn nắng
Biển sóng vỗ rầm rì
Chiều sương lam thinh lặng
Chiếc nón trắng tà huy
Mái tóc huyền hư vắng
Ôi chiếc lá phong thi
Suốt đời ta ngậm đắng
.
Chào ngày sanh tự tặng
Một hơi thở nhẹ thênh
Càng nhớ lại càng quên                                                        
Càng quên lại càng nhớ
Ngữ ngôn trời ấm ớ
Ý tứ đất ỡm ờ
Thôi thì cứ mần thơ
Cứ ngu ngơ là phước…
05.2015
.

Nguyễn Lương Vỵ

Birthday

A Poem by Nguyen Luong Vy

Translated into English by Tô Đăng Khoa

Hello my birthday
Sixty-three years
Just as a light rain falling
a slight taste of coffee
the wind of May changes the season
Noon of the ninth change leaves
Light up a cigarette greeting old age
And this is bliss!
.
There is no confidant
Strange land but familiar sky
Poetry is glowing
My soul is glimmering
Remember the trumpet of leaves
Merry butterfly by lotus pond
Dreams overflow via howling
Grey hair, I dare not forget
.
There is no You at sixteen
Yellow flowers in moonlight
A small road in Qui Nhon
A Shortcut at Ghenh Rang
A guttural wind in Mo Han
My soul echoes footsteps
Oh, the innocent sky
Turning around, evening is settling
.
There is no me to pay a visit
The craps are hiding from the sun
The muttering waves is soothing
The evening blue dew is tranquil
The white hat in evening sun
The deserted back hair
Oh, the maple leaves
Silence my whole life
.
For myself on my birthday
One slightest breath
Much to remember yet forgotten
Much to forget yet remembered
The clumsy language spheres
The jerky intention grounds
Well, just scribbled down some poems
Not overthinking is blessed.
05.2018
Translated by Tô Đăng Khoa

Tuesday, May 8, 2018

An Trú Ba Mẹ Vào Trí Tuệ Mới Là Trả Ơn Ba Mẹ

AN 2.31-32 -- Kataññu Suttas: Gratitude
Translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu

...
"I tell you, monks, there are two people who are not easy to repay. Which two? Your mother & father. Even if you were to carry your mother on one shoulder & your father on the other shoulder for 100 years, and were to look after them by anointing, massaging, bathing, & rubbing their limbs, and they were to defecate & urinate right there [on your shoulders], you would not in that way pay or repay your parents.

If you were to establish your mother & father in absolute sovereignty over this great earth, abounding in the seven treasures, you would not in that way pay or repay your parents. Why is that? Mother & father do much for their children. They care for them, they nourish them, they introduce them to this world.

But anyone who rouses his unbelieving mother & father, settles & establishes them in conviction; rouses his unvirtuous mother & father, settles & establishes them in virtue; rouses his stingy mother & father, settles & establishes them in generosity; rouses his foolish mother & father, settles & establishes them in discernment: To this extent one pays & repays one's mother & father."
.



KINH TĂNG CHI BỘ
Anguttara Nikàya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chương Hai Pháp
.

Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha.

Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này.

Nhưng này các Tỷ-kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú, các vị ấy vào lòng tin; đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí; đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ. Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha.

Monday, May 7, 2018

Excerpt from "Chuyển lại nguồn cội"

By Nguyễn Thế Đăng

Như thế con đường đi từ cái sanh diệt đến cái chẳng sanh diệt luôn luôn nằm trên nền tảng chẳng sanh diệt vốn có sẵn. Nói cụ thể, hành giả dù có làm gì, dù có tu pháp môn nào cũng luôn luôn ở trên và ở trong nền tảng Chân như Chánh trí chẳng sanh chẳng diệt, luôn luôn ở trên và ở trong “Như Lai tạng là cảnh giới Phật”.

Đến đây chúng ta có thể thắc mắc, các bậc thánh có thấy và có sống với danh tướng không? Hẳn là có vì các vị không lầm lẫn một cái cây với một ghế đá, một dòng sông với một ngọn núi, và các vị vẫn thuyết pháp. Nhưng có lẽ chúng ta cần hiểu thế giới danh tướng của các vị vượt khỏi “hữu vô, thường đoạn…” như kinh nói. Danh tướng của các vị không còn nằm trong phân biệt vọng tưởng; không nằm trong thái độ lấy bỏ; không nằm trong các phiền não tham, sân, si…




Trích từ "Chuyển lại nguồn cội"

Bài của Nguyễn Thế Đăng

Nguyên Giác dịch sang tiếng Anh 

Thus the Way we travel from the cycle of birth and death to the unborn and deathless is always on the original foundation of the unborn and deathless. In other words, despite you practice with any dharma technique, you actually always stay upon and live within the True Thusness, that is the unborn and deathless Wisdom' you always stay upon and live within "the one one who has thus come, or the realm of Buddhas."

We may have a question now: do the holy persons see and live with the labels and appearances? Yes, because that they don't mistake a tree for a stone bench, or a river for a mountain; also, they still give dhamma talks. However, we need to understand that their world of labels and appearances is, as described in the suttas, far beyond the duality of existence and non-existence, of eternalism and nihilism. Seeing the world of labels and appearances, the holy persons have none of the false perceptions (1), think of neither grasping nor rejecting anything, and stay away from the greed, hatred, and delusion.


NOTE:
(1) Kalaka Sutta: Thus, monks, the Tathagata, when seeing what is to be seen, doesn't construe an [object as] seen. He doesn't construe an unseen. He doesn't construe an [object] to-be-seen. He doesn't construe a seer.


GHI CHÚ:
(1) Kinh Kalaka Sutta: Do vậy, các sư, Như Lai, trong khi thấy cái được nhìn thấy, không suy diễn tư lường [cái gì] như được nhìn thấy. Như Lai không suy diễn tư lường cái không được nhìn thấy. Như Lai không suy diễn tư lường [cái gì] như sẽ được nhìn thấy. Như Lai không suy diễn tư lường một ai nhìn thấy.



Saturday, May 5, 2018

Thiền Sư Thánh Nghiêm chú giải Tín Tâm Minh


Zen Master Sheng Yen (1931-2009):

Let it go and be spontaneous,
Experience no going or staying.
Accord with your nature, unite with the Way,
Wander at ease, without vexation.

The most important thing in practice is to be natural and spontaneous. Being natural does not mean neglecting everything. It requires careful attention.




Zen Master Sheng Yen (screenshot from a video)


Thiền Sư Thánh Nghiêm (1931-2009):

Hãy buông bỏ tất cả các pháp, hãy để tâm tự nhiên
Hãy kinh nghiệm [trong tâm] rằng không có gì để đi, không có gì để trụ
Hãy thuận theo tự tánh, hợp nhất với Đạo
Hãy thõng tay vào chợ, không gì lo lắng bận tâm.

Điểm quan trọng trong pháp hành là tự nhiên, hồn nhiên. Thuận theo tự nhiên không có nghĩa là bỏ lơ mọi thứ. Nó đòi hỏi sự chú tâm cẩn trọng.


Friday, May 4, 2018

Mindfulness Retreat




MINDFULNESS RETREAT
FOR EDUCATORS AND PARENTS 
 
Khoá Bồi Dưỡng Chánh Niệm
Cho Giáo Chức và Phụ Huynh

This mindfulness retreat is resulted by the popular request of participants who took my other workshops.

Mindful Leadership: A mindfulness-based professional development for all teachers, educators and administrators


Mindful Leadership: A mindfulness-based professional development for all teachers, educators and administrators

Research shows that mindfulness meditation and a mindfulness-based approach in life enhance the well-being, physical, emotional, and mental health of all, including, of course, practitioners, educators, and even administrators.

These workshops introduce the research and practices of a mindfulness-based approach in the classroom that will help teachers and students manage their emotional and mental stress, increasing their well-being and refreshing their energy.

They are designed for all teachers, educators, and administrators, and will lead the practitioners to be more mindful and compassionate individuals. Our entire educational system needs to be more mindful and holistic--let us begin with ourselves and our classrooms.

These workshops will also offer practice-based strategies and techniques such as mindful movement, meditative exercises, and sharing best practices based on evidence from current research. They also require participants to wear comfortable clothing, have a willingness to self-reflect and be open-minded individuals.
 
This mindfulness-based professional development course hopes to transform individuals and the classroom climate while building positive, nurture interpersonal relationships.
The workshop series also offers a blueprint for better living, towards harmony and peace in the individual, community and society through Spirituality and Mindful Leadership.

 
"What is mindfulness?" You might asked. It is a skillset and a practice to have a calmer you. Mindfulness gives us space between our emotions and our responses. Mindfulness means paying attention at the present moment, with kindness, compassion and patience, to what is going on inside and outside of you, and without any judgement. Mindfulness helps calm your “monkey mind”, which is often restless, agiated and distracted. A goal of mindfulness practice is to calm the constant chatter of our 'monkey mind', connect your body, heart and mind, to see things clearly, and to be more awareness with a harmony and peaceful outcome that benefit ourselves and others, not only in the now, but also in the future.

Dear fellow educators,  
 Over the past 5 years, I work with the district and SJTA as part of the CTA/Stanford/SCOPE (Instructional Leadership Corps) to offer mindfulness workshops for San Juan educators and throughout California. Due to the popular demand, we are offering this mindfulness retreat for educators and parents in our district and others. I thought that we, as staff, would benefit from this unique experience. Participants also get 6hrs of PD. The space is limited, so register early if you can. The ERO number is 1840433109. We'll learn about mindfulness. The retreat information is on the poster. Please spread the words. Thank you for your support.
May we all be safe, well, at ease and happy.
 
-Phe

***


"Chánh niệm là gì?" Bạn có thể hiếu kỳ. Chánh niệm là một kỹ năng và một thực tập để chúng ta có thể bình tĩnh hơn. Chánh niệm cho chúng ta không gian giữa những cảm xúc, cảm thọ và phản hồi của mình. Chánh niệm có nghĩa là chú ý vào giây phút hiện tại, với lòng tử tế, từ bi và kiên nhẫn, với những gì đang xảy ra quanh mình và bên trong của mình, mà không có sự phán xét. Chánh niệm giúp làm dịu "tâm khỉ" của bạn, thường là bồn chồn, bực bội và phân tâm. Mục đích của việc thực hành chánh niệm là làm 'tâm khỉ' của mình dịu lại và bình tĩnh hơn, cũng như kết nối thân-tâm (cơ thể, trái tim và tâm trí) của bạn, để nhìn rõ mọi việc, và nhận thức tốt hơn với một kết quả hòa hợp và an bình làm lợi cho mình và cho người, ngay bây giờ và cho cả tương lai. 

 
Các bạn đồng sự thân mến,
  Trong 5 năm qua, tôi làm việc với Học Khu San Juan và Hiệp hội giáo chức San Juan như là một phần của CTA/Stanford/SCOPE ILC (Instructional Leadership Corps) để tổ chức các buổi hội thảo về chánh niệm cho các nhà giáo ở Học khu San Juan và khắp tiểu bang California. Do nhu cầu phổ biến, chúng tôi lại mở thêm Khoá bồi dưỡng chánh niệm này cho các nhà giáo dục và phụ huynh ở Sacramento và các vùng phụ cận. Chúng tôi thiết nghĩ, tất cả chúng ta sẽ được lợi lạc lợi từ trải nghiệm độc đáo này. Những giáo viên trong học khu San Juan tham gia cũng sẽ được 6 giờ cho PD (phát triển chuyên môn). Không gian có giới hạn, vì vậy hãy đăng ký sớm nếu bạn có thể. Số ERO là 1840433109. Chúng ta sẽ học về chánh niệm. Xin vui lòng chia sẻ cho những ai có thể cần khoá bồi dưỡng này. Mọi chi tiết của khoá bồi dưỡng nằm ở phần poster. Thành thật cảm ơn sự hỗ trợ của các bạn.
Cầu mong cho tất cả chúng ta được an toàn, bình yên, thoải mái và hạnh phúc.
 
-Phẻ

LÀ NHƯ THẾ - AS IT IS

LÀ NHƯ THẾ - AS IT IS Composed and translated by Tâm Thường Định . LÀ NHƯ THẾ   Kính tặng Ni trưởng Hạnh Huệ Ni trưởng thong don...